Lớp 8

Nghị luận về tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao

Nghị luận bàn về tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao để thấy được đằng sau những lời văn miêu tả đó là sự thấu hiểu, cách nhìn của một con người đồng cảm với nỗi đau khổ của người nông dân gần gũi, yêu thương nhưng vẫn thật cao quý. Nam Cao đã giúp cho người đọc hiểu được nỗi khổ tâm, bất hạnh cùng nghèo đói của những người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

———–

Những bài văn nghị luận về tác phẩm Lão Hạc hay nhất

Bài văn mẫu 1

Bạn đang xem: Nghị luận về tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao

Hình ảnh con người nghèo khổ mà trong sạch với một tình cảm xót thương và trân trọng

Nam Cao là một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Truyện của Nam Cao nóng hổi chất hiện thực của thời đại và chan chứa tấm lòng yêu thương con người, đặc biệt là những người khốn khổ. Cùng với Chí Phèo, trăng sáng, đời thừa,… Lão Hạc là truyện ngắn đặc sắc. Nhân vật trung tâm của thiên truyện là lão Hạc, một người nông dân gặp nhiều nỗi khổ tâm và bất hạnh vì nghèo đói nhưng chất phác, đôn hậu, thương con.

Đọc vài dòng đầu của truyện, chúng ta chợt chạnh lòng trước tình cảnh đau thương của lão Hạc. Nhà nghèo, không có tiền cưới vợ cho đứa con trai duy nhất, lão Hạc rất buồn bã, khổ tâm, xót xa. Cậu con trai bi quan thất vọng trước cái xã hội mà người ta sống với nhau chỉ vì tiền, xem tình cảm chỉ là một món hàng nên xin vào miền nam làm phu đồn điền cao su. Nguyện vọng của cậu ta là vào đấy, cố gắng làm ra nhiều tiền để lấy được người cậu yêu. Thật ra, cậu ta suy nghĩ hãy còn nông cạn mà quên những câu ca dao này:

“Cao su đi dễ khó về,

Khi đi trai tráng, khi về bủng beo”.

Hay:

“Cao su xanh tốt lạ đời,

Mỗi cây bón một xác người công nhân”.

Lão Hạc là người gặp bất hạnh chồng chất bất hạnh. Trước đây, lão Hạc bất hạnh vì vợ chết. Nay, lão rơi vào nỗi bất hạnh vì con ra đi biền biệt. Đối với lão “ngày cũng như đêm chỉ thui thủi một mình”. Bây giờ lão đành làm bạn với con chó Vàng. Lão và chó Vàng vui buồn có nhau. Dù đứa con ở phương xa nhưng lúc nào lão cũng nghĩ về con và lo cho con: “Ta bán vườn của nó, cũng nên để ra cho nó, đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta cho vợ chồng nó để có chút vốn mà làm ăn”.

Nhưng trên cõi đời này, không ai có thể dự đoán được tương lai của mình. Lão Hạc không phải là trường hợp ngoại lệ. Ôm đau do tuổi già đã cướp đi những ý nghĩ tốt đẹp của lão. Dân gian có câu “nhà sập bìm leo”- lão chưa khỏe hẳn thì tai họa do thiên nhiên ập đến. Những cơn bão nặng nề, dữ dội tàn phá làng mạc, thôn xóm cũng như cướp sạch sành sanh hoa màu của lão. Giá gạo trở nên đắt đỏ. Bởi thế, đói nghèo chồng chất đói nghèo. Lão Hạc rơi vào bế tắc. Con chó Vàng mà lão thương yêu bị bán đi. Đó là điều ngoài ý muốn, đồng thời là nỗi day dứt, tiếc nuối, xót xa của lão. Lão cất tiếng khóc chan chứa nỗi khổ đau: “Mặt lão tự nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão nghẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít, lão hu hu khóc…”. Tiếng khóc của lão Hạc thể hiện trạng thái dồn nén đến cùng cực, cạn kiệt, khiến chúng ta liên tưởng đến một quả chanh bị vắt kiệt nước, chỉ còn cái vỏ bèo nhèo. Nỗi đau của lão Hạc không kém nỗi đau của lão Gôriô trong kiệt tác cùng tên của đại văn hào Balzac. Lão Gôriô và lão Hạc có điểm chung là cả hai lão đều gặp nỗi đau trong đoạn cuối của cuộc đời. Điểm khác nhau là nguyên nhân của mỗi nỗi đau do những hoàn cảnh khác nhau gây ra. Lão Gôriô đau đớn, bất hạnh vì bị ba cô con gái ruồng rẫy, bạc đãi khi lão già yếu. Còn lão Hạc có con trai hiếu thảo ở phương xa nhưng đau khổ vì đói nghèo do hoàn cảnh xã hội gây ra. Tiếng khóc của lão Hạc bơ vơ, lạc lõng giữa dòng người, dòng đời. May mắn thay, ông giáo chia sẻ với lão nhưng ông giáo cũng nghèo.

Việc bán con chó Vàng đi khiến lương tâm của lão ray rứt mãi: “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!”. Tình thương yêu con vật có nghĩa khiến lão nghĩ mình là kẻ bạc bẽo, đánh lừa loài vật. Con người lừa dối con người đã xấu xa. Tồi tệ hơn khi con người lừa con vật. Vì lão Hạc nghĩ như thế nên lão cảm thấy hổ thẹn. Những lời nói giữa lão Hạc và ông giáo cho chúng ta thấy lão Hạc đang trên đường đi đến đỉnh điểm của nỗi khốn khổ và bất hạnh: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người may ra có sung sướng hơn một chút… Kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn!…”. “Nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?” Chắc có lẽ, lão Hạc là người tín ngưỡng phật giáo nên gặp đau khổ, lão liên tưởng đến thuyết “nhân quả ba đời” của nhà phật. Những lời lão Hạc thốt ra thể hiện sự nhân từ lẫn mỉa mai, chua chát, thất vọng, bế tắc.

Tuy nghèo nhưng lão Hạc vẫn luôn nghĩ đến con. Lão đặt niềm tin trọn vẹn vào ông giáo cùng khổ. Lão giữ tất cả ba sào vườn và 30 đồng bạc để khi lão chết đi con trai lão vẫn còn chút tài sản làm kế sinh nhai. Ôi! Lòng cha thương con đến thế là cùng! Chắc có lẽ, sau này cậu con trai nếu may mắn sống sót trở về, khó có thể hiểu rằng, để có được chút của cải ấy, cha của cậu ta phải dè sẻn, hôm ăn chuối, hôm ăn sung luộc, bữa ăn rau má, củ ráy, bữa trai, bữa ốc, cho đến … Bả chó! Ông giáo bất ngờ khi biết lão Hạc xin bả chó của Binh Tư. Có lần, Binh Tư nói với ông giáo trong cái “bĩu môi”: “Lão làm bộ đấy! Thật ra thì lão chỉ tẩm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu!”. Ông giáo suýt chút nữa đã hiểu lầm phẩm chất “đói cho sạch, rách cho thơm” của lão Hạc nếu chỉ nghe lời của kẻ xấu như Binh Tư.

Người ta thường nói rằng: Kẻ bất lương luôn có những ý nghĩ xấu xa. Thật đúng như vậy, Binh Tư chuyên hành nghề ăn trộm nên nghĩ lão Hạc xin bả chó là để cùng chung bước đường của hắn. Không! Lão Hạc là một đóa hoa sen trong sạch giữa bùn nhơ. Lão tự kết liễu cuộc đời mình bằng bả chó vì quá khốn cùng, vì muốn bảo toàn danh dự và nhân phẩm. Nếu trong kiệt tác chí phèo của Nam Cao, chí phèo tự kết liễu cuộc đời mình bằng nhát dao oan nghiệt thì lão Hạc cũng tự tìm đến cái chết nhưng bằng bả chó. Chí phèo đau đớn vì cả làng Vũ Đại ai cũng coi hắn là con quỷ dữ chứ không phải là con người. Còn lão Hạc may mắn hơn chí phèo ở chỗ lão Hạc được mọi người quý mến, đồng thời lão cũng là người cao thượng. Lão Hạc không muốn sống những chuỗi ngày tăm tối để ăn hết phần tiền dành dụm cho con, để làm phiền luỵ đến mọi người.

Nhưng xét cho cùng, lão Hạc là người vì con. Có thể xem cái chết của lão như một sự hi sinh, ôi! Tình thương con của lão Hạc vừa bao la, vừa toả sáng lung linh như viên ngọc trăm màu.

Tóm lại, cuộc đời lão Hạc là những trang đầy bất hạnh, đau khổ. Nhưng chúng ta thấy, càng trong đau khổ, lão Hạc càng đẹp lạ thường. Phải chăng, đó chính là vẻ đẹp chung của những người nông dân bé nhỏ ở Việt Nam trước cách mạng tháng tám?

Có thể bạn quan tâm: Phân tích nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao

Bài văn mẫu 2

Bài văn nghị luận về tác phẩm Lão Hạc lớp 8

Trong nền văn học nước nhà, đặc biệt là các tác phẩm truyện ngắn viết về đề tài nông dân không thể không nhắc đến tác giả Nam Cao, một nhà văn của người nông dân, tác phẩm Lão Hạc là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông viết về đề tài người nông dân Việt Nam, câu chuyện thể hiện được bản chất xã hội, lên án xã hội mục nát, chèn ép nhân dân lao động.

Trong truyện, trung tâm là nhân vật Lão Hạc, là một người nông dân sống cảnh nghèo đói, khổ cực, góa vợ, hoàn cảnh khó khăn bắt buộc mà con trai lão bỏ làng đi vào đồn điền cao su làm ăn, để Lão Hạc ở nhà với con chó mà con trai lão mua. Những ngày tháng xa con lão phải sống trong lo âu, phiền muộn vì chưa làm tròn bổn phận của một người cha dành cho đứa con của mình. Con trai lão Hạc là một nhân vật tuy nhắc đến không nhiều nhưng vì nghèo đói mà anh cũng phải rời xa ngôi nhà của mình để đi làm cao su, anh ra đi với hi vong “có bạc trăm” vì “sống khổ, sống sở ở cái làng này nhục lắm” để thấy một ý chí khát khao có một cuộc sống bình bị, ấm no hạnh phúc trong tương lai. Nhưng cái nơi anh muốn cuộc sống thay đổi thì lại là nơi địa ngục trần gian, “cao su đi dễ khó về/khi đi trai tráng khi về bủng beo” cho thấy sự bóc lột sức lao động của con người một cách dã man.

Nhân vật ông giáo chính con người nhiều chữ nghĩa ấy lại nghèo, nếu lão Hạc yêu cậu Vàng bao nhiêu thì cũng như ông giáo yêu quý những quyển sách của mình bấy nhiêu, dù quý sách nhưng vì nghèo đói ông cũng phải bán dần đi còn đúng 5 quyển ông nói “dù có phải chết cũng không bán”. Thông qua nhân vật ông giáo làm ta hiểu được thêm nỗi đau trực tiếp của người nông dân, hiểu thêm được căn nguyên sâu xa trong nỗi đau của họ phải trực tiếp chịu đựng, dù vậy họ vẫn phải bươn trải, lao động vất vả để duy trì cuộc sống nghèo túng.

Vì sống một mình, cộng thêm sự cô đơn một mình trong nhà mà lão Hạc thương cậu Vàng lắm, có gì cũng cho nó ăn, chăm sóc chu đáo, nhưng sự nghèo đói khiến ông phải bán nó đi, một quyết định mà chính ông cũng cảm thấy có lỗi. Sau trận bão, lão không thể kiếm ra tiền mà “tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Để rồi lão chọn kết cục thật bi thương, lão dành dụm được số tiền cho đứa con trai cùng mảnh đất để cho nó sau này lấy vợ. Nhân vật Lão Hạc tự sắp xếp cái chết trước cho mình, một cái chết giải thoát cho mọi thứ, đây chính là tình cảnh chung mà người dân nghèo khổ lúc bấy giờ phải chịu đựng

Dù nghèo đói nhưng đến phút cuối cùng lão vẫn giữ được nét thanh cao trong con người mình, giữ được nhân phẩm, đạo đức, không làm cho một đời bị nghèo đói làm vẩn đục, để rồi nhận được sự giải thoát cuối cùng. Cái chết chính là tâm điểm của tác phẩm khi sáng lên tinh thần nhân văn cao cả của con người. Bằng lối văn kể chuyện đầy đặc sắc của mình tác giả làm tăng thêm giá trị nghệ thuật và đặc biệt càng khiến người đọc thêm cảm phục hơn tinh thần của những người nông dân nghèo khổ, dân gian ta thường có câu “đói cho sạch, rách cho thơm” để hiểu được dù nghèo nhưng chúng ta vẫn phải ngẩng cao đầu, sống sao cho hợp tình hợp lý, để nhân phẩm luôn trong sạch.

Cái chết của Lão Hạc đã được ông chuẩn bị, từ việc mua bả chó về, rồi gọi ông giáo sang dặn dò những ý nguyện của ông, để rồi bán cậu Vàng, bán một người bạn trung thành luôn bên cạnh ông, để có một kết thúc tuy không có hậu nhưng nó đang lên án, một xã hội mục nát, dồn ép con người ta đến bước đường cùng. Khi đọc Truyện ngắnLão Hạc ta bắt gặp biết bao mảnh đời éo le, biết bao con người, bao số phận, bao mảnh đời đáng thương, nhưng rất nhiều tấm lòng đáng trân trọng, giữa bóng tối của cuộc đời cùng quẫn sau lũy tre làng, ta vẫn tìm thấy ít nhiều ánh sáng trong tâm hồn nhân hậu, chan chứa tình yêu thương. Mỗi lần đọc lại một lần xót thương cho số phận của con người nông dân chân chất đầy đau thương, với một “lão Hạc” xuất sắc đến vô cùng, tác giả Nam Cao đã rất thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, ông chính là nguồn thơ văn khi kể đến người nông dân.

Tham khảo thêm: Phân tích truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao

Bài văn mẫu 3

Văn mẫu 8 nghị luận về tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao

Nam Cao được biết đến chính là “ông hoàng của truyện ngắn”, những tác phẩm truyện ngắn của ông không chỉ mang lại được những giá trị hiện thực sâu sắc mà mang được những giá trị nhân văn. Nam Cao nổi danh trong sáng tác viết về người nông dân nghèo khổ trước Cách mạng và trong đó không thể không nói đến “Lão Hạc”.

Có thể nhận thấy được rằng cũng chính lão Hạc cho ta một cái nhìn về quá khứ để mà trân trọng nhiều hơn cuộc sống hôm nay. Tác phẩm thực sự là một trong những tác phẩm giá trị không chỉ về hình thức, cách diễn đạt ngôn từ phong phú và bình dị thì còn thể hiện những chiều sâu tư tưởng đạo lý và hiện thực xã hội lúc bấy giờ. Có thể nhận thấy được cũng chính cuộc sống là một cuộc đấu tranh dường như cũng phải chỉ đơn giản là để sinh tồn mà còn là một cuộc đấu tranh để bảo toàn nhân cách cho mỗi con người.

Nếu như người ta có thể bắt gặp những thế lực cường quyền hắc ám trong xã hội cũ đã đẩy người nông dân rơi vào tình cảnh éo le như trong “Tắt đèn”. Hay những thế lực cường quyền đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng không lối thoát vì sưu thuế như ở nhân vật anh Pha trong “bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan. Thì người đọc vẫn có thể ngầm nhận ra được sự tài tình của nhà văn Nam Cao như cũng đã lên án đanh thép thế lực cường quyền đã đẩy tình cảnh người nông dân đến mức đường cùng không lối thoát.

Lão Hạc thực sự cũng chính là một sản phẩm của một tấm lòng nhân đạo cao cả. Tác phẩm như cũng chính là tình yêu thương, là sự ngợi ca, và đó đồng thời cũng là sự trân trọng người lao động của Nam Cao. Những người nông dân trước cách mạng hiện ra dưới ngòi bút của nhà văn Nam Cao cũng thật bình dị và chân thành biết bao nhiêu. Ta như cũng có thể nhận thấy được chính những nếp cảm, suy nghĩ của chính họ đã được lột tả một cách chân thực và độc đáo nhất. Không còn là một nhân vật bình thường nữa mà ta nhân vật Lão Hạc đại diện cho tất cả người nông dân trong xã hội cũ.

Những người nông dân như lão Hạc, ta dường như thấy được suốt đời sống trong cảnh nghèo và cái đói. Lão Hạc cũng đã dành hầu như cả đời mình để nuôi con mà chưa bao giờ nghĩ đến mình. Lão có một tình yêu thương con vô bờ bến và thật khó có thứ gì đó có thể so sánh được. Lão cũng rất quặn đau và thương khi con không lấy được vợ vì nhà ta nghèo đến thảm hại. Vì tấm lòng thương con phải bỏ làng, và bỏ xứ ra đi để ôm mộng làm giàu ở chỗ “một đi khó trở lại” như đồn điền cao su. Độc giả làm sao có thể kìm nén được cảm xúc khi chứng kiến được lão Hạc như cũng thật khổ biết nhường nào khi phải bán đi cậu Vàng, kỳ vật duy nhất của đứa con trai. Câu hỏi như cứ xoáy sâu tận tâm can của mỗi người, nếu như lão Hạc mà không bán cậu Vàng đi thì chính lão cũng không biết nuôi gì để cho cậu sống nữa khi đã không có gì ăn. Lão Hạc cũng đã cố gắng ăn củ chuối để sống qua ngày và lão nhận ra được rằng nếu như lão sống thêm, nhất định lão sẽ tiêu hết số tiền dành dụm cho đứa con mình bấy lâu nay. Thế rồi lão đã đi đến quyết định cuối cùng đó chính là việc xin Binh Tư ít bả chó và tự vẫn. Tình cảnh của lão Hạc thực sự là một trong những tình cảnh éo le và nó như thể hiện được thân phận khổ đau của người nông dân trước cách mạng thực sự khó khăn.

Thực sự chính cái chết của Lão Hạc sáng bừng phẩm chất cao đẹp của người nồng dân. Ta như cũng nhận thấy được chính cái chết của lão Hạc dường như cũng lại đã khiến ta vừa cảm thương vừa nể phục một nhân cách giàu tự trọng. Lão Hạc đã chết nhưng đã quyết giữ cho được mảnh vườn, và hơn hết lão như không muốn làm ai liên lụy nên đã chuẩn bị từ trước hết cho mình.

Độc giả đọc tác phẩm “lão Hạc” không khó để nhận thấy đâu phải chỉ mình lão khổ. Người ta như cũng đã thấy được ngay cả những hạng người như Binh Tư, một kẻ do cái nghèo mà bị tha hoá thành một tên trộm cắp. Và đó cũng chính là ông giáo, là một người trí thức đầy hiểu biết nhưng cũng không thoát ra khỏi áp lực của cảnh vợ con rách áo lo từng miếng ăn. Nếu như lão Hạc đau buồn trước việc phải bán cậu Vàng thì ông giáo cũng sẽ đau thậm thấu tâm can khi phải bán sách.

“Lão Hạc” chính với những giá trị hiện thực và giá trị nhân văn sâu sắc ta có thấy niềm tin đồng thời đó cũng chính là những sự lạc quan của nhà văn vào bản chất tốt đẹp của con người. Thế nhưng, thông qua đó ta nhận thấy được rằng chính điều quan trọng hơn mà nhà văn muốn nhắn gửi đó là một lời tố cáo. Tác phẩm như cũng đã lại cất lên như là một tiếng kêu để cứu lấy con người đã bị xã hội đẩy vào tình trạng buồn thảm đó.

Tác phẩm “Lão Hạc” như mang lại cho ta một cái nhìn về quá khứ để mà trân trọng nhiều hơn cuộc sống hôm nay. Thông qua đó có thể hiểu được tình cảnh khổ đau của những người nông dân trước cách mạng họ đã phải chịu nhiều đau khổ, ngay cả sự sống cũng như bị bóp nghẹt lại.

———

Trên đây là một số bài văn mẫu hay nhất với nội dung nghị luận về tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao mà Đọc tài liệu đã biên soạn. Hy vọng với những chia sẻ ở trên phần nào giúp được các em làm bài tốt hơn trong quá trình theo học tác phẩm. Chúc các em học tốt môn văn mẫu lớp 8

[Văn mẫu 8] Nghị luận về tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao để thấy được qua cái nhìn miêu tả của Nam Cao đó là sự thấu hiểu, cách nhìn của một con người đồng cảm với nỗi đau khổ của người nông dân nhưng vẫn thật cao quý

Đăng bởi: Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội

Chuyên mục: Giáo Dục Lớp 8

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!

Bạn đang dùng trình chặn quảng cáo!